Máy Vật lý trị liệu Quân đội

Trời rét, cảnh giác với hội chứng thắt lưng hông

Hội chứng thắt lưng hông là tổn thương phối hợp phức tạp giữa bệnh lý cột sống thắt lưng và dây thần kinh hông to (thần kinh tọa). Khi thời tiết chuyển rét và ẩm ướt, căn bệnh này thường có xu hướng chuyển biến nặng hơn, gây đau đớn và hạn chế khả năng vận động của người bệnh.

 

Các bệnh lý nguyên nhân gây ra hội chứng thắt lưng hông

Về mặt giải phẫu, vùng cột sống thắt lưng sở hữu các rễ thần kinh tủy sống liên kết chặt chẽ với nhau về cả mặt chức năng lẫn bệnh lý (bao gồm các rễ từ L1 đến L5). Khi cột sống hoặc đĩa đệm bị tổn thương, các rễ thần kinh này rất dễ chịu tác động tiêu cực. Những bệnh lý hàng đầu gây ra hội chứng thắt lưng hông bao gồm:

  • Thoát vị đĩa đệm và thoái hóa cột sống thắt lưng: Tình trạng đĩa đệm lệch khỏi vị trí hoặc thoái hóa tự nhiên do tuổi tác gây chèn ép thần kinh.
  • Trượt đốt sống: Có thể do bẩm sinh hoặc hệ quả của chấn thương, thường đi kèm với thoái hóa cột sống.
  • Chấn thương cơ học: Tác động lực trực tiếp vào dây thần kinh tọa, gãy xương cột sống thắt lưng hoặc gãy xương chậu.
  • Viêm cột sống: Nhiễm khuẩn do tụ cầu hoặc trực khuẩn lao hủy hoại cấu trúc đốt sống.

Trượt đốt sống

Trượt đốt sống – một trong những nguyên nhân phổ biến gây hội chứng thắt lưng hông.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh qua các hội chứng điển hình

Khi bị hội chứng thắt lưng hông, người bệnh thường phải đối mặt với hai hội chứng lâm sàng phối hợp chặt chẽ là hội chứng cột sống và hội chứng rễ thần kinh.

1. Hội chứng cột sống

Cơn đau tại cột sống thắt lưng có thể bùng phát đột ngột sau một chấn thương, hoặc tiến triển âm ỉ dạng bán cấp và mạn tính. Đặc trưng của cơn đau là khu trú ở các đốt sống nhất định, đau dữ dội hoặc đau nhói khi ấn trực tiếp vào mỏm gai các đốt sống tổn thương. Ngoài ra, cột sống sẽ bị biến dạng rõ rệt: mất đường cong sinh lý, giảm ưỡn, gù hoặc lệch vẹo sang một bên. Mọi biên độ hoạt động như cúi, ngửa, nghiêng hay xoay người đều bị hạn chế tối đa.

2. Hội chứng rễ thần kinh

Đặc trưng bởi những cơn đau dọc theo đường đi của rễ thần kinh, đau buốt nhói như mưng mủ. Cơn đau giảm rõ rệt khi bệnh nhân nằm nghỉ ngơi trên giường phẳng nhưng lại tăng mạnh khi đi lại, đứng lâu, hoặc khi ho, hắt hơi. Một số dấu hiệu điển hình bao gồm:

  • Điểm đau khu trú: Ấn đau chói ở điểm giữa nếp lằn mông (thống điểm Valleix); dấu hiệu Déjerine dương tính (đau tăng khi ho hoặc hắt hơi).
  • Rối loạn cảm giác da: Tê bì, châm chích dọc mặt ngoài đùi xuống cẳng chân, mắt cá ngoài, mu bàn chân và các ngón chân hoặc mặt sau chân đến gót và gan bàn chân.
  • Rối loạn vận động: Bệnh nhân đi lại khó khăn, phải nghỉ chân liên tục do đau (đi khập khiễng cách hồi). Cơ chân yếu, khó gấp hoặc duỗi bàn chân, giảm hoặc mất phản xạ gân gót.
  • Rối loạn thần kinh thực vật: Da chân lạnh, rối loạn tiết mồ hôi, rụng lông, teo cơ chân và cơ cạnh cột sống. Thân mình và xương chậu lệch về bên đối diện chân đau, mông bên đau xệ xuống rõ rệt.

<img src="/wp-content/uploads/img/thongtin/hinhanh/cotsong/mri-thoat-vi-dia-dem4.jpg" alt="Thoát vị đĩa đệm" width="536

Originally posted 2011-12-15 06:54:39.

DMCA.com Protection Status