Máy Vật lý trị liệu Quân đội

Sử dụng thuốc trong điều trị loét đường tiêu hóa

Trước đây, các biện pháp điều trị viêm loét đường tiêu hóa còn nhiều hạn chế và chủ yếu phụ thuộc vào nhóm kháng acid hoặc kháng muscarin. Tuy nhiên, sự ra đời của cimetidin vào năm 1977 cùng những phát hiện đột phá về vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện, mang đến nhiều giải pháp tối ưu trong chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị bệnh.

Các nhóm thuốc điều trị loét tiêu hóa phổ biến hiện nay

Hiện nay, y học sử dụng nhiều nhóm thuốc khác nhau với các cơ chế tác động chuyên biệt để bảo vệ và phục hồi niêm mạc đường tiêu hóa:

Chất kháng acid (Antacids): Các hoạt chất quen thuộc như hydroxid magiê và carbonat calci có khả năng trung hòa tạm thời lượng acid trong dạ dày, giúp giảm nhanh các triệu chứng khó chịu như ợ nóng, đầy bụng. Tuy nhiên, do thời gian tác dụng ngắn, nhóm này hiện ít được dùng đơn độc trong phác đồ điều trị loét cấp tính.

Thuốc kháng H2 và thuốc ức chế bơm proton (PPI): Cả hai nhóm đều có vai trò ức chế tiết acid dạ dày. Trong đó, các thuốc PPI như lansoprazole, omeprazole, pantoprazole và rabeprazole sở hữu hoạt lực cực kỳ mạnh mẽ, có khả năng duy trì hiệu quả kháng tiết suốt 24 giờ chỉ với một liều duy nhất.

Thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày: Gồm sucralfat (tạo lớp màng bảo vệ gắn kết với các protein tại vị trí tổn thương) và misoprostol (một prostaglandin giúp tăng sản sinh chất nhầy và bicarbonat). Lưu ý, sucralfat không có tác dụng giảm đau hay tiêu diệt vi khuẩn H. pylori.

Kháng sinh diệt khuẩn: Để điều trị triệt để các ổ loét do nhiễm khuẩn, các loại kháng sinh như amoxicillin, clarithromycin, tetracyclin và metronidazole thường được phối hợp cùng muối bismuth nhằm tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn H. pylori.

Sử dụng thuốc trong điều trị loét đường tiêu hóa

Nguyên nhân chính và chỉ định điều trị hiệu quả

Tác nhân hàng đầu dẫn đến các ổ loét mạn tính ở đường tiêu hóa là tình trạng nhiễm khuẩn H. pylori và việc lạm dụng các thuốc chống viêm không steroid (NSAID). Một số nguyên nhân ít gặp hơn bao gồm hội chứng tăng tiết acid quá mức, xạ trị hoặc tác động từ các chất kích thích.

Đối với viêm loét do vi khuẩn H. pylori, việc dùng đơn độc một loại kháng sinh hay thuốc kháng tiết là không đủ. Phác đồ điều trị chuẩn hiện nay yêu cầu kết hợp tối thiểu một thuốc PPI với hai loại kháng sinh thích hợp để đạt tỷ lệ tiệt trừ cao nhất. Ngoài ra, việc dùng thuốc dự phòng loét do NSAID không áp dụng đại trà mà chỉ được khuyến cáo cho những nhóm đối tượng có nguy cơ biến chứng cao như người cao tuổi hoặc người mắc các bệnh mạn tính.

Các tác dụng không mong muốn cần lưu ý

Mặc dù các thuốc chống loét dạ dày tương đối an toàn, người bệnh vẫn có thể gặp phải một số tác dụng phụ không mong muốn:

  • Chất kháng acid: Dễ gây rối loạn tiêu hóa như táo bón hoặc tiêu chảy. Riêng calci carbonat có thể gây hiện tượng tăng tiết acid dội ngược trở lại.
  • Thuốc kháng H2: Có thể gây đau đầu, độc tủy xương, ảnh hưởng chức năng gan, tụy hoặc gây ra chứng vú to ở nam giới nếu lạm dụng lâu ngày.
  • Thuốc PPI: Được dung nạp khá tốt, một số tác dụng phụ ngắn ngày thường gặp là đau đầu hoặc rối loạn tiêu hóa nhẹ.
  • Misoprostol và Sucralfat: Misoprostol dễ gây co thắt bụng, tiêu chảy và tuyệt đối chống chỉ định cho phụ nữ mang thai do nguy cơ sảy thai cao. Sucralfat thường gây tác dụng phụ điển hình là táo bón.

Originally posted 2012-03-27 07:33:28.

Sử dụng thuốc trong điều trị loét đường tiêu hóa Đai chườm thảo dược Vai Gáy Điện 975.0001.211.000
Sử dụng thuốc trong điều trị loét đường tiêu hóa Đai chườm thảo dược Lưng Bụng Điện 975.0001.179.000
Gapo-alance-trang2 Máy Nén Ép Trị Liệu 5 Khoang Khí Gapo Alance 10.490.000
Con-lan-doctor100-nhiet Con lăn cột sống Doctor100 nhiệt 3.440.000
Sử dụng thuốc trong điều trị loét đường tiêu hóa Duo Vital® (hộp đơn 1 chai) 2.650.000
Tebexerol-immunoxel-125ml Tebexerol Immunoxel 125ml 800.000
DMCA.com Protection Status